CHIẾN TRANH THƯƠNG MẠI: CHIẾN LƯỢC BAO VÂY HAY CHẶT ĐỨT?

1. THƯƠNG CHIẾN VÀ NHỮNG SỐ LIỆU CẦN QUAN TÂM?

Mặc dù không thể phản ánh đầy đủ tác động của chiến tranh thương mại, nhưng những số liệu sau đây cho thấy kinh tế Trung Quốc đã phản ứng tiêu cực với chiến tranh thương mại cũng như cuộc chiến này đã làm xấu đi một số “điều kiện kinh tế căn bản” của Trung Quốc. Hãy cùng theo dõi các số liệu sau:

1.1. Vì sao thâm hụt 2018 của Mỹ lại tăng cao? Có hai yếu tố có thể giải thích vì sao thâm hụt thương mại Mỹ với Trung Quốc lại tăng cao hơn so với trước khi áp thuế. (1) Các doanh nghiệp nhập khẩu của Mỹ và xuất khẩu của Trung Quốc muốn tranh thủ quãng thời gian thuế chưa tăng cao hơn để tiến hành hoạt động xuất – nhập khẩu. (2) Quy định của USTR dành cho các doanh nghiệp Mỹ là trên thực tế các doanh nghiệp có một năm để chưa phải tuân thủ mức thuế mới miễn là chứng minh thoả mãn một số điều kiện mà USTR đề ra. Chính quy định này đã giúp nhiều doanh nghiệp Mỹ nhập khẩu mà chưa phải chịu mức thuế mới – và do đó củng cố thêm giả thuyết (1) rằng các doanh nghiệp đã tranh thủ năm 2018 để “tích luỹ” – hay nói cách khác là tăng cường thương mại “chạy thuế”. Điều này cũng giúp giải thích tại sao số liệu thương mại quý 1/2019 của Trung Quốc với Mỹ đã xấu đi trông thấy. Trong quý 1/2019, thặng dư thương mại của Trung Quốc với Mỹ đã giảm mạnh xuống còn 80 tỷ USD (giảm 12,2% so với cùng kỳ năm ngoái), trong đó xuất khẩu sụt giảm 18,8% và nhập khẩu cũng giảm 13,9%. Trong suốt thời kỳ kinh tế Mỹ phục hồi (bắt đầu vào giữa năm 2009), thương mại song phương tương đương khoảng từ 3 – 3,4% GDP Mỹ. Đến quý 4/2018, thương mại 2 chiều vẫn ở mức 3,29% GDP Mỹ. Nhưng theo số liệu mới công bố thì trong quý 1/2019, xuất nhập khẩu của Mỹ với Trung Quốc đã giảm “toàn diện” xuống mức 2,51% GDP Mỹ – mức thấp nhất kể từ năm 2006 (2,47%).

HÀM Ý 1: Việc theo dõi số liệu thương mại cần theo dõi trong thời gian dài để hiểu xu thế của dòng chảy hàng hoá, không nên quá tập trung vào số liệu của một quý hoặc một năm. Nhưng số liệu hiện nay ít nhất cho thấy quan điểm hàng xuất khẩu Trung Quốc sang Mỹ “miễn nhiễm” với chiến tranh thương mại là sai lầm. Nó cũng giúp lý giải vì sao chính phủ Trung Quốc đưa việc “dỡ bỏ hoàn toàn thuế quan” vào điều kiện đầu tiên trong nhóm ba điều kiện để ký thoả thuận với Mỹ.

1.2. Thâm hụt thực sự trông như thế nào? Nếu tính cả thặng dư thương mại dịch vụ (điều được trình bày cặn kẽ hơn ở mục 1.4) có thể thấy thâm hụt giữa hai bên không phải là 530 tỷ mà là 490 tỷ USD. Điều này cho thấy một số hàm ý quan trọng.

HÀM Ý 2: (1) chiến tranh thương mại chỉ là cái cớ để Mỹ ngăn chặn sự tiếp cận công nghệ của Trung Quốc (điều sẽ được trình bày kỹ hơn ở mục 2 và 3). Bởi lẽ, trong cuộc đàm phán các lần trước Trung Quốc đã đề nghị Mỹ xuất khẩu nhiều hơn nữa các hàng hoá ATP – thay vì hàng nông sản – nhưng Mỹ đã không làm vậy. Thặng dư thương mại dịch vụ 3 năm qua của Mỹ luôn ở mức khoảng 40 tỷ USD/năm. Nếu Mỹ tăng cường xuất khẩu hàng ATP cùng với thương mại dịch vụ thì thâm hụt giữa hai nước sẽ được cải thiện. (2) Du lịch có thể trở thành vũ khí mới của Trung Quốc – ghi nhận quy mô lên tới gần 35 tỷ USD giá trị du lịch từ Trung Quốc sang Mỹ trong năm 2018.

1.3. Nếu chuyển hướng xuất khẩu sang các thị trường khác thì Trung Quốc đã làm được những gì? Để kiểm tra khả năng Trung Quốc đã tìm được thị trường thay thế cho xuất khẩu sang Mỹ chưa, có thể xem số liệu xuất khẩu của Trung Quốc sang các thị trường quan trọng khác như EU, châu Phi và châu Á. Việc này có thể dễ dàng kiểm tra bằng số liệu.

1.4. Cán cân vãng lai của Trung Quốc có gì lạ? Là nước thặng dư thương mại quy mô lớn nhưng thặng dư cán cân vãng lai của Trung Quốc đã giảm mạnh hai năm qua và lần đầu tiên xuất hiên thâm hụt. Từ 2019 có thể trạng thái mới của Trung Quốc sẽ là thâm hụt cán cân vãng lai.. Trên thực tế, quý 1/2018 Trung Quốc đã ghi nhận thâm hụt cán cân vãng lai 34,1 tỷ USD vào tháng 3/2018. Cân bằng cán cân vãng lai trung bình trượt 4 quý của Trung Quốc đã giảm từ 3-4% GDP xuống còn 0,5% GDP. Với mức suy giảm này, dự tính, đến năm 2020, Trung Quốc mỗi năm sẽ thâm hụt 200 – 220 tỷ USD.

HÀM Ý 3: Thâm hụt cán cân vãng lai trong bối cảnh hiện nay cho thấy Trung Quốc đã chi rất nhiều cho thương mại dịch vụ. Cơ cấu chi tiêu nhiều nhất liên quan đến (1) người Trung Quốc ra nước ngoài du lịch; (2) công ty Trung Quốc phải chi trả cho dịch vụ tài chính hay mua sáng chế của nước ngoài; (3) ra nước ngoài du học và (4) ra nước ngoài chăm sóc sức khoẻ v.v. Nếu cán cân vãng lai thâm hụt lớn hơn Trung Quốc sẽ phải tài trợ bằng tỷ giá hoặc vay nợ thêm. Mà điều này thì không phải lựa chọn dễ dàng về điều hành vĩ mô lúc này.

1.5. Dự trữ ngoại tệ Trung Quốc có chịu ảnh hưởng tiêu cực từ thương chiến không? Năm 2018, thặng dư thương mại của Trung Quốc là 351,7 tỷ USD. Tuy nhiên, dự trữ ngoại tệ lại giảm 70 tỷ USD so với năm 2017. Điều đó có nghĩa là cùng với việc cán cân vãng lai không còn thặng dư nhiều thì đã có những biến động lớn trong cán cân vốn của Trung Quốc (có thể liên quan đến việc phải hy sinh dự trữ ngoại tệ để ổn định tỷ giá NDT, hoặc do đầu tư quá nhiều ra bên ngoài thông qua việc thực hiện các dự án BRI).

HÀM Ý 4: Chiến tranh thương mại kéo dài sẽ tác động không nhỏ đến dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc. Điều này mặc dù không quá nguy hiểm về mặt kinh tế, nhưng sẽ tác động đến tâm lý và kỳ vọng thị trường – một trong sáu mục tiêu mà chính phủ Trung Quốc xác định cần giữ ổn định. Dự trữ vàng của Trung Quốc chỉ có 62 triệu ouce (tương đương 78 tỷ USD – con số quá thấp khiến việc bán tháo trái phiếu chính phủ Mỹ thực sự trở thành một hành động tự sát).

1.6. Thị trường chướng khoán nào đang tăng/giảm? Nhiều người vui mừng vì Trung Quốc có “biệt đội giải cứu quốc gia” với thị trường chứng khoán. Đại khái là khi thị trường sụt giảm mạnh nhóm các quỹ đầu tư hoặc công ty chứng khoán lớn do nhà nước thành lập hoặc hậu thuẫn sẽ mạnh tay mua vào để “cứu điểm”. Cách làm này phát huy tác dụng nhưng có hai điểm cần nhìn ra. Thứ nhất, chính phủ Mỹ không phải bơm tiền để giữ Dow Jones còn Trung Quốc phải đổ tiền cho một loạt công ty chứng khoán và quỹ đầu tư để cứu điểm cho chỉ số C300 của mình. Nói cách khác, để giữ cho thị trường không bị chao đảo Trung Quốc đã phải hy sinh nguồn lực – mà chưa ai biết là bao nhiêu tỷ USD. Thứ hai, hình về thị trường chứng khoán cho thấy chỉ số chứng khoán Thượng Hải sụt giảm hơn nhiều so với DJ (đang sụt giảm khoảng 15% so với DJ đang tăng khoảng 5%).

1.7. Các chính sách kinh tế của mỗi bên có theo cùng hướng giống nhau không? Sự khác biệt trong chính sách kinh tế của mỗi bên cho thấy Trung Quốc đang chịu phản ứng tiêu cực từ thương chiến hơn Mỹ. Mỹ đang thiên về kiểm soát kinh tế tăng trưởng nóng: FED đã liên tục tăng lãi suất năm 2018. Mặc dù việc này đã chậm lại. Trong khi đó, Trung Quốc thiên về (1) nới lỏng tiền tệ (giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc hai lần kể từ đầu năm và 5 lần trong vòng hai năm qua), (2) tài khoá (giảm thuế quy mô lớn và (3) đầu tư vào CSHT) để hỗ trợ tăng trưởng trong cả năm 2018 và nửa đầu 2019. Trung Quốc cũng phải đề ra chủ trương “6 ổn định” để đảm bảo nền kinh tế không xuất hiện các rủi ro lớn.

2. MỸ THỰC SỰ MUỐN GÌ?

Ở post trước, VCES đã đưa ra giải thích về điều Mỹ muốn đối với bản thân THOẢ THUẬN THƯƠNG MẠI, ở phần này, chúng tôi sẽ đưa ra giả thuyết về các lý do mang tính chiến lược dài hạn.

2.1. Ngăn chặn bước tiến của các doanh nghiệp công nghệ Trung Quốc. Các doanh nghiệp đặt ở Trung Quốc vốn coi Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng công nghệ cao (ATP) số một. Nhưng doanh số xuất khẩu của các doanh nghiệp này ngày càng bị thu hẹp. Số liệu thương mại Mỹ – Trung cả năm 2018 cho thấy ba điều quan trọng đối với nhóm hàng ATP với top 10 mặt hàng này (1) Mỹ đã không tăng cường nhập khẩu hàng công nghệ cao (ATP) của Trung Quốc cho dù thâm hụt thương mại 2018 tăng mạnh so với 2017, mà thậm chí ngược lại, thâm hụt hàng hoá ATP đã giảm từ mức 135,47 tỷ USD (năm 2017) xuống còn 134,63 tỷ USD (năm 2018) – tức là Mỹ giảm nhập khẩu hàng ATP từ Trung Quốc. (2) Nếu Mỹ giảm xuất khẩu ATP thuộc nhóm hàng không (đang chiếm tới 47% tổng mức xuất khẩu ATP sang Trung Quốc – tương đương 18,3 tỷ USD) thì không chỉ ảnh hưởng đến Boeing mà còn đánh mạnh vào tham vọng sản xuất máy bay dân dụng dùng cho thương mại hoá của Trung Quốc; (3) Số liệu này và số liệu Top 10 mặt hàng sẽ bị tăng thuế cho thấy nhóm hàng sản xuất thiết bị viễn thông và bo mạch vi tính của Trung Quốc sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề – những ngành này đang chiếm tới 90% hàng ATP mà Trung Quốc đang xuất khẩu sang Mỹ (157,1 tỷ USD hoặc tương đương với 29% tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá của Trung Quốc sang Mỹ). Sang quý 1/2019, nhóm hàng ATP tiếp tục giảm mạnh 36,2% cho thấy việc Trung Quốc xuất khẩu hàng ATP sang Mỹ ngày càng chịu tác động lớn từ thương chiến. Cùng giờ này năm ngoái Mỹ nhập khẩu của Trung Quốc 39,5 tỷ USD hàng ATP, quý 1/2019 giảm chỉ còn 29,4 tỷ USD.

2.2. Giảm việc Trung Quốc “hưởng lợi miễn phí” từ kinh tế Mỹ qua đó thay đổi cả tư duy kinh tế của Mỹ. Bản chất của thặng dư cán cân vãng lai là tiêu dùng quá ít, tiết kiệm quá nhiều. Việc Mỹ “đẩy xa” mối liên hệ kinh tế với Trung Quốc không chỉ đòi hỏi Trung Quốc phải chịu trách nhiệm với hàng hoá mình sản xuất ra (đừng sản xuất ồ ạt quá nhiều nữa) mà còn khiến kinh tế Mỹ phải lành mạnh hơn (đừng vay nợ để ăn tiêu mãi, hãy học cách biết tiết kiệm và chính phủ phải biết cách tiêu dùng lành mạnh).

2.3. Chặt đứt chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Sản xuất các loại chip và các sản phẩm bán dẫn có bốn khâu quan trọng: thiết kế, chế tạo, assembly và thử lại rồi đóng gói. Có hai mô hình sản xuất chính là (1) các doanh nghiệp làm hết từ A- Z (được gọi là IDM). Thị phần của Mỹ là 51% và Trung Quốc là 0%; (2) nhóm các doanh nghiệp thiết kế tại công ty mẹ (gọi là “fabless”). Trong phân khúc này các doanh nghiệp Mỹ chiếm 62% thị phần và Trung Quốc chiếm 10%. Sau khi fabless thì sản phẩm được outsource để chế tạo (gọi là “foundry”) còn hai khâu còn lại được gọi là “OSAT”.

HÀM Ý 5: Nhìn vào số liệu ở hình bên dưới cũng thấy Trung Quốc không thể quá cứng với Đài Loan được, và Mỹ đang chơi rất chiến lược khi ban hành đủ thứ đạo luật để thắt chặt quan hệ với hòn đảo này. Sẽ là tự chặt vào tay mình nếu Trung Quốc muốn hạn chế xuất khẩu đất hiếm sang Mỹ để đánh vào các ngành bán dẫn và sản xuất chip. Các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc như ZTE và Huawei sẽ sống sót như thế nào khi mà 90% chip và các linh kiện bán dẫn của nước này vẫn phải nhập khẩu (Nhân dân Nhật báo cho biết).

3. MỸ ĐANG LÀM NHỮNG GÌ ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC MỤC ĐÍCH NÊU TRÊN?

3.1. Ngăn doanh nghiệp Trung Quốc tiếp cận với công nghệ của doanh nghiệp Mỹ đang làm ăn trên đất Trung Quốc. Điều này thể hiện qua việc đưa vào nội dung đàm phán các biện pháp quan trọng cũng như cơ chế đánh giá thực thi. Kết quả, Quốc hội Trung Quốc đã phải chóng vánh thông qua Luật đầu tư nước ngoài mới vào tháng 3/2019.

3.2. Hạn chế xuất khẩu các hàng hoá công nghệ. Tháng 8/2019, Tổng thống Trump đã ký một đạo luật quan trọng mang tên Đạo luật Cấp thẩm quyền Quốc phòng Quốc gia (NDAA) cho năm tài khoá 2019. Đạo luật này có liên hệ đến Đạo luật cải cách kiểm soát xuất khẩu (ECRA) năm 2018 (Mục 1751). Sự thay đổi đáng chú ý nhất là trong Mục 1758, chỉ đạo việc thiết lập các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mới đối với các công nghệ cơ bản và mới nổi, được xác định là cần thiết cho an ninh quốc gia Mỹ bởi một ủy ban liên ngành. Mục 889 của Đạo luật cấm chính phủ liên bang mua hoặc gia hạn hợp đồng với bất cứ thể chế nào sử dụng thiết bị, hệ thống hoặc dịch vụ viễn thông của hai công ty Trung Quốc là ZTE và Huawei. Ngoài ra, cũng trong năm 2018, Bộ Thương mại Mỹ đã ban hành danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu nhằm vào hơn 40 thực thể (là pháp nhân và thể nhân) Trung Quốc liên quan đến các sản phẩm hàng không, bán dẫn, công nghệ nguyên tử và một số sản phẩm nhạy cảm khác.

3.3. Kiểm soát chặt luồng vốn FDI vào trong nước. Đạo luật Cấp thẩm quyền Quốc phòng Quốc gia (NDAA) đánh giá lại Đạo luật Hiện đại hóa đánh giá rủi ro đầu tư nước ngoài (FIRRMA) (Mục 1701). FIRRMA giới thiệu những cải cách lớn về Ủy ban Đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS) được sử dụng để xem xét và, nếu cần, hạn chế đầu tư nước ngoài vì những lo ngại về an ninh quốc gia. Là một uỷ ban thuộc Bộ Tài chính, nằm trực tiếp dưới quyền quản lý của Bộ trưởng, CFIUS được thành lập từ thời tổng thống Reagan nhưng hoạt động của CFIUS đã tích cực một cách rõ rệt dưới thời tổng thống Trump. Mặc dù CFIUS không công khai các thương vụ đầu tư về điều tra liên quan đến an ninh quốc gia nhưng nếu lần theo các hoạt động của uỷ ban này có thể thấy CFIUS đã dành rất nhiều sự chú trọng cho hai nhóm thoả thuận (i) những thương vụ can dự vào các sản phẩm kĩ thuật công nghệ nào đó – như bán dẫn và (ii) tất cả những thương vụ có liên quan đến nhà đầu tư Trung Quốc. Kết quả là năm 2018, đầu tư FDI của Trung Quốc vào Mỹ sụt giảm tới 84% so với năm 2017, ghi nhận hai năm sụt giảm liên tiếp do tác động của việc CFIUS gia tăng các hoạt động kiểm tra ngăn chặn. Cụ thể, vốn FDI từ Trung Quốc vào Mỹ đã giảm từ 48 tỷ USD (năm 2016) xuống còn 4,8 tỷ (năm 2018).

3.4. Đàm phán lại với các đối tác để ngăn chặn Trung Quốc hưởng lợi từ một cơ hội với Mỹ (USMCA và TPP) – bao vây bằng luật chơi. Nếu nhìn vào “top 5” đối tác thương mại của Mỹ có thể thấy Trung Quốc, Canada và Mexico đang là ba nước dẫn đầu. Ba nước này lần lượt có kim ngạch thương mại hai chiều với Mỹ đạt 527,6 tỷ USD (chiếm 15,8%), 500,4 tỷ USD (chiếm 15%) và 482,5 tỷ USD (chiếm 14,5%) vào năm 2016. Thâm hụt của Mỹ với ba nước này cũng lên tới gần 500 tỷ USD, trong đó có những ngành như thép thì Mexico và Canada là những nước xuất khẩu chính sang Mỹ. Như vậy, có thể thấy việc đàm phán và ký lại một hiệp định thương mại mới là phù hợp với chính sách “nước Mỹ trên hết” của tổng thống Trump bởi hai nước láng giềng là những đối tác thương mại quan trọng của Mỹ. Tuy nhiên, nhìn vào các điều khoản mới ký, có thể thấy USMCA cũng là một mắt xích quan trọng trong chuỗi các chính sách ngăn chặn hàng hoá Trung Quốc thâm nhập thị trường Mỹ và ngăn chặn ảnh hưởng kinh tế Trung Quốc tại Bắc Mỹ – điều có ý nghĩa chiến lược lớn hơn nhiều một cuộc chiến thương mại. Thông qua những điều khoản mới ký kết của USMCA về việc ứng xử quyết liệt với quốc gia có nền kinh tế PHI THỊ TRƯỜNG có thể thấy Mỹ đã bắt đầu đặt luật chơi mới. Nói cách khác, USMCA là một thử nghiệm, một phiên bản nâng cấp của FTA 2.0 – nơi mà các điều kiện bên trên thuế quan (vấn đề thể chế, môi trường, lao động, chế tài xử phạt) được dành nhiều sự chú ý hơn là các vấn đề về thuế quan. Hiện Mỹ đang thúc đẩy đàm phán song phương mạnh mẽ với Nhật Bản, châu Âu, Anh. Như vậy, nếu tất cả các đàm phán này hoàn thành – với những điều khoản mới như USMCA – thì Mỹ đã thiết lập được lớp lõi của WTO 2.0 và bao vây Trung Quốc bởi bức tường thương mại – đầu tư khổng lồ xung quanh quốc gia này. Đó là cuộc bao vây kinh tế không phải bằng răn đe thuế suất mà là bao vây bằng luật chơi.

4. NHÌN NHẬN NHƯ THẾ NÀO VỀ PHẢN ỨNG TRUNG QUỐC?

4.1. Trung Quốc đã chuyển từ bị động sang chủ động. Thay vì đáp ứng các yêu cầu của Mỹ, tại vòng đàm phán then chốt Trung Quốc đã chủ động từ bỏ một thoả thuận và đưa ra ba điều kiện cho Mỹ nếu muốn có một thoả thuận.

4.2. Trung Quốc phản ứng bình tĩnh và kiểm soát. Thứ nhất, không vội vàng trả đũa mà 13/5 Bộ Tài chính mới ra tuyên bố áp thuế lên 60 tỷ USD hàng hoá (vốn đang chịu mức thuế từ 5 – 10%) của Mỹ. Thứ hai, không có một trang thông tin hay tờ báo nào đưa tin về chi tiết đàm phán vòng 11. Một quá trình “bưng kín” thông tin được tiến hành. Chí có Nhân dân Nhật báo và Hoàn cầu thời báo lên tiếng, trong đó Hoàn cầu dẫn lại bài xã luận của Nhân dân nhật báo. Thứ ba, Trung Quốc chia làm 3 mức thuế đánh lên 60 tỷ USD. Nhóm chịu 25% thuế, nhóm chịu 20% thuế, nhóm chịu 10% thuế quan. Nhóm 5% thuế ở đợt trước thì bây giờ vẫn giữ nguyên. Cùng với việc phản ứng chậm hơn 3 ngày (rất khác so với các lần trước) và tuyên bố thuế mới chỉ áp dụng từ 1/6 (tức là chậm hơn 20 ngày so với Mỹ, thì việc chia mức thuế như vậy cho thấy tín hiệu khá mềm mỏng của Trung Quốc. Tín hiệu được hiểu là Trung Quốc không muốn leo thang mà chỉ làm việc “bắt buộc phải làm”.

4.3. Trung Quốc rất tự tin và đã chuẩn bị tốt cho cuộc kháng chiến trường kỳ này. Phát biểu với báo giới, Lưu Hạc giải thích về sự tự tin của chính phủ Trung Quốc. Trong đó có một nhận định quan trọng mà giới phân tích kinh tế không thể bỏ qua, đó là tăng trưởng Trung Quốc đã xác định được ĐÁY vào năm ngoái, và năm nay chuyển sang chu kỳ tăng trưởng mạnh. Điều này có thể được kiểm chứng vào kết quả cuối năm nay, nhưng có thể thấy Trung Quốc đã chuẩn bị khá nhiều cho điều này. Thứ nhất, về chính sách, phương châm 6 ổn định được quán triệt và yêu cầu gắt gao. Thứ hai, hàng loạt chính sách kích thích kinh tế đã được kích hoạt (nới lỏng tiền tệ, bơm tiền xây CSHT, giảm thuế quy mô lớn cho doanh nghiệp; giảm thuế tiêu dùng; phát triển nông thôn đặc sắc v.v.

4.4. Trung Quốc đang bảo vệ điều gì mạnh mẽ nhất? Câu trả lời là bảo vệ niềm tin thị trường và kỳ vọng của thị trường. Đây trước hết là một cuộc chiến truyền thông và cuộc chiến tâm lý. Bên nào tạo ra kỳ vọng thị trường tốt hơn thì càng ít chịu cú shock. Chính Lưu Hạc đã nhấn mạnh hai “ổn định” trên được đặt ở vị trí quan trọng không kém gì ổn định tài chính. Để xem mức độ ổn định tâm lý và ổn định kỳ vọng thị trường đến đâu có thể quan sát (1) thị trường chứng khoán; (2) tỷ giá NDT; (3) thị trường lao động; (4) thị trường tiêu dùng hàng xa xỉ. Trung Quốc đang làm khá tốt với thị trường chứng khoán và tỷ giá, chỉ có điều phải hy sinh dự trữ ngoại tệ để thực hiên sự ổn định đó. Và nó nên được tính vào phí tổn của thương chiến lần này.

4.5. Chủ nghĩa dân tộc trong kinh tế của Trung Quốc đang lên cao. Điều này đã tạo ra sự hậu thuẫn chính trị quan trọng cho việc ông Tập Cận Bình theo đuổi đường lối cứng rắn với Mỹ. Điều này, cộng thêm việc ước lượng tác động của thương chiến đến kinh tế trong nước không quá lớn càng khiến Trung Quốc sẵn sàng kéo dài thương chiến hơn là thoả hiệp lớn.

4.6. Để đối phó với tác động tiêu cực về mặt công nghệ mà Trung Quốc gây ra cho doanh nghiệp nội địa, Trung Quốc đã đồng loạt nâng cao yêu cầu về tỉ lệ tự cấp tự túc và tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp công nghệ thuộc nhóm MIC 2025. Có nhiều sản phẩm – như các sản phẩm bán dẫn bị yêu cầu nâng hạn mức sản xuất cao gấp đôi so với mục tiêu ban đầu được đề ra vào năm 2015. Điều này có thể dẫn đến sự duy ý chí và quá tải của các nhóm ngành này.

HÀM Ý 6: không dễ để buộc Trung Quốc nhượng bộ, và đây sẽ là cuộc trường chinh mới của cả hai bên.

5. TIẾP THEO TRUNG QUỐC SẼ LÀM GÌ VÀ NẾU VẬY MỸ SẼ LÀM GÌ?

Phần này VCES xin giữ bảo mật thảo luận (chỉ cung cấp cho các đơn vị đối tác) nên chúng tôi chỉ đưa ra một số gợi ý thảo luận như sau: (1). Trung Quốc sẽ áp dụng chiến thuật chịu đòn/lỳ đòn hay phản đòn? Nếu chịu đòn thì chịu đựng được trong bao lâu? Làm thể nào để lượng hoá sức chịu đựng đó? (2) Nếu phản đòn thì sẽ bằng những công cụ gì?

———
Ảnh: Reuters
Bài viết của TS. Phạm Sỹ Thành. Vui lòng không sao chép bài viết dưới mọi hình thức.
#VCES #morethanacenter

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *